Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và kiểm định thang đo mức độ tham gia tích cực của học sinh THCS
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và kiểm định thang đo mức độ tham gia tích cực của học sinh THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và kiểm định thang đo mức độ tham gia tích cực của học sinh THCS

MỤC LỤC Trang I. ĐẶT VẤN ĐỀ 2 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ............................................................................... 3 1. Cơ sở lý luận của vấn đề 3 2. Thực trạng vấn đề 21 3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 25 4. Tính mới của giải pháp 28 5. Hiệu quả SKKN 29 6. Phạm vi áp dụng 29 7. Phạm vi ảnh hưởng 29 III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.............. 24 Tài liệu tham khảo 32 1 những giải pháp, chính sách trong giáo dục. Có nghĩa là chúng ta chỉ điều chỉnh phương pháp, chương trình dạy học khi thấy có dấu hiệu về kết quả học tập của học sinh là thấp, làm như vậy có thể nói không quá rằng chẳng khác gì “mất bò mới lo làm chuồng”. Việc vận dụng khái niệm về sự tham gia của học sinh giúp giải quyết được vấn đề trên. Việc thu thập dữ liệu về mức độ tham gia sẽ giúp cho các nhà giáo dục trực tiếp điều chỉnh các thành tố trong quá trình dạy và học nhằm tăng cường hiệu quả,chứ không chỉ chờ đến lúc có kết quả rồi mời điều chỉnh như đã nói ở trên. Hơn nữa, việc thu thập dữ liệu về sự tham gia của học sinh lại không tạo ra áp lực cho chính học sinh và cả xã hội như việc tổ chức các kì thi như hiện nay. Khái niệm về sự tham gia của học sinh đã được chúng tôi trình bày trong bài viết (Bang, 2019). Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào việc xây dựng thang đo mức độ tham gia tích cực của học sinh trong các hoạt động ở nhà trường. Khi có một bộ công cụ đo lường tốt, các nhà trường, các cơ quan quản lí sẽ có thể áp dụng để đánh giá mức độ tham gia của học sinh ở từng trường, từng địa phương. Bài viết này tập trung trình bày về việc xây dựng thang đo dùng để đo lường mức độ tham gia tích cực của học sinh trong các hoạt động ở nhà trường, bộ câu hỏi đã được khảo sát trên 281 em học sinh tại trường THCS Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk, độ tin cậy và độ giá trị của bộ câu hỏi cũng đã được đánh giá là phù hợp cho việc đo lường mức độ tham gia của học sinh. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận của vấn đề: a. Quá trình dạy học Theo quan niệm hiện nay, quá trình dạy học là một quá trình tương tác (hợp tác giữa thầy và trò, trong đó thầy chủ đạo như: hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh, còn trò tự giác, tích cực, chủ động thông qua việc tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học. Quá trình dạy học được diễn ra ở những không gian xác định (tại học đường, ở nhà, các cơ sở xã hội khác), được phân chia theo những khoảng thời gian nào đó (1 tiết học, một buổi học, một học kì, một năm học, một khóa học, một bậc học). Hơn nữa, dạy hoc cũng được coi là một hoạt động giáo dục, quá trình dạy học bao gồm các thành tố, các mối quan hệ của nó hoàn thành một hệ thống. Xuất phát từ những đặc điểm hoạt động của quá trình dạy học, chúng ta có 3 điều kiện bên ngoài nhà trường (môi trường kinh tế- xã hội, địa phương và đất nước). - Kết quả dạy học: là kết quả của hoạt động dạy và hoạt động học thông qua kiểm tra, đánh giá, trở thành yếu tố kích thích, điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học. Kết quả dạy học có thể được phản ánh qua kết quả bài kiểm tra, các kì thi (ngắn hạn), có thể phản ánh thông qua sự thành công hay thất bại của học trò trong cuộc sống, công việc (dài hạn). Tất cả những yếu tố nêu trên có một liên quan mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau tạo thành một hệ thống của quá trình dạy học. Nhờ có sự liên hệ và tác động lẫn nhau giữa các thành tố mà quá trình dạy học đã làm cho hệ thống dạy học hoàn thành và phát triển. Sự thiếu vắng một thành tố nào đó, hoặc do tính chất và trình độ không phù hợp với các thành tố khác và do vậy không phù hợp với quá trình tổng thể sẽ gây trở ngại cho quá trình hoạt động của các yếu tố khác, ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học. Trong nhưng yếu tố nêu trên, mục đích dạy học có vai trò đặc biệt quan trọng, quy định tính chất và nội dung của tất cả những yếu tố khác. Nội dung dạy học là đối tượng chiếm lĩnh của trò, là mục đích dạy học đã được đối tượng hóa trong hoạt động dạy học, có tác dụng trực tiếp dẫn dắt sự phát triển nhận thức của học sinh thông qua phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Việc làm cho nội dung học vấn thực sự trở thành đối tượng hoạt động của người học, việc tổ chức hoạt động tích cực và tự giác của người học để chiếm lĩnh nội dung học vấn chỉ có thể thực hiện được bởi các phương pháp giảng dạy và học tập, đó là mặt thao tác - hoạt động của qúa trình dạy học. Chất lượng của phương pháp và hình thức tổ chức dạy học quy định hiệu quả tác dụng của nội dung giáo dục (Nguyễn Văn Hộ 2002). Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học chỉ được thực hiện bằng những phương tiện và trong những điều kiện nhất định. Hơn nữa, phương tiện và điều kiện dạy học cũng mang những đặc điểm của nội dung và phương pháp dạy học, do đó cũng tác động tới chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học. Có thể nói, trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện và điều kiện dạy học, kết quả đánh giá vv... phải nhằm tới việc giúp cho học sinh tích cực, tự giác học tập. Mối liên hệ giữa dạy và học, việc trao đổi, phối hợp giữa hoạt động của giáo viên và hoạt động của học 5 Theo sơ đồ trên, nhu cầu xã hội là cái có trước tiên, là cơ sở xuất phát cho việc xác định mục đích dạy học, cơ chế quản lí giáo dục và dạy học. Những yếu tố ngẫu nhiên tồn tại trong xã hội tác động vào tất cả các yếu tố nằm trong hệ thống dạy học. Điều đó có nghĩa là nhu cầu xã hội tác động lên quá trình dạy học thông qua các yếu tố trung gian đã được chọn lọc phù hợp với từng điều kiện lịch sử, từng cấp học, từng giai đoạn dạy học và trong các yếu tố đó yếu tố mục đích dạy học là quan trọng nhất. Nói cách khác, mục đích dạy học là sự phản ánh nhu cầu xã hội đối với quá trình dạy học. Giáo viên căn cứ vào mục đích dạy học, tổ chức nội dung dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học, tận dụng những cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật dạy học để truyền đạt nội dung đến học sinh. Học sinh tự tổ chức việc tiếp nhận nội dung đó thông qua phương pháp học nhằm đạt tới kết quả dạy học. Mối quan hệ này được gọi là mối quan hệ thuận (Nguyễn Văn Hộ 2002). Kết quả học tập mà học sinh đạt được sẽ được được phản ánh qua kết quả kiểm tra, đánh giá, và so sánh với mục đích dạy học. Nhờ việc kiểm tra, giáo viên có được những thông tin về sự học của học sinh để trên cơ sở đó điều chỉnh cách thức truyền đạt, hoàn chỉnh nội dung, hoàn thiện hình thức tổchức dạy học. Mối liên hệ này được coi là mối liên hệ ngược bên ngoài (hay còn gọi là mối liên hệ nghịch). Cũng chính nhờ có sự kiểm tra này, bản thân học sinh cũng rút ra được cho mình những mặt mạnh, mặt yếu trong việc lĩnh hội nội dung, sử dụng phương pháp, tổ chức học tập để trên cơ sở đó tự điều chỉnh mình. Đây là mối liên hệ ngược bên trong của quá trình dạy học (Nguyễn Văn Hộ 2002). b. Lý thuyết dòng chảy và Sự tham gia của học sinh Theo David J Shernoff , lý thuyết Dòng chảy là một lý thuyết trong tâm lí học do Csikszentmi-halyi đề xuất vào năm1990, trong đó, Dòng chảy (Flow) được hiểu là trạng thái tâm lý trong đó đối tượng chú ý sâu sắc (bị cuốn hút) vào một hoạt động tựa như là một nghệ sĩ hay một vận động viên tập trung vào vai diễn, trận đấu. Trạng thái này giống với việc một dòng nước chảy tự nhiên, không bị cản trở bởi vật cản nào. Những người trong trạng thái này nhân thức rằng “trận đấu” của họ rất thú vị và thành công, họ nhận thấy rằng hành động đó là đáng phải làm vì lợi ích của chính hành động ấy ngay cả khi không đạt được mục tiêu cụ thể nào cả. Đồng thời, người đó phát huy tối đa khả năng của bản thân và coi những trải nghiệm nhận được khi hành động như là phần thưởng cho bản thân. Ví dụ như 7 Dựa trên nền tảng Lý thuyết dòng chảy, trạng thái Dòng chảy bao gồm các trạng thái con như: sự tập trung, sự quan tâm và sự thích thú trong một hoạt động. Các trạng con này phải đồng thời xảy ra là điều kiện để thiết lập trạng thái dòng chảy. Những trạng thái nói trên của dòng chảy cũng là những thành tố quan trọng của Sự tham gia. Việc phân tích kĩ hơn về trạng thái dòng chảy cho phép chúng ta hiểu hơn về khái niệm của Sự tham gia. Sự tập trung hoàn toàn trong một hoạt động là một khía cạnh, một điều kiện tiên quyết của trạng thái dòng chảy. Trong việc dạy học, sự tập trung trong một hoạt động cũng là một khía cạnh của mức độ tham gia. Một học sinh tập trung cao trong các hoạt động học tập cũng là một học sinh có mức độ tham gia cao, điều này đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Sự quan tâm là điều kiện cơ bản của trạng thái dòng chảy, nếu không có sự quan tâm, trạng thái này không thể xảy ra. Đồng thời sự quan tâm cũng là điều kiện cơ bản của Sự tham gia. Sự quan tâm giúp cho bản thân học sinh nắm bắt được những cơ hội để học, đọc, hoạt động với những bạn khác, từ đó kích hoạt trạng thái dòng chảy và cũng tăng cường mức độ của sự tham gia. Sự thích thú là điều kiện cảm xúc chính của trạng thái Dòng chảy, nó giúp duy trì sự tập trung và sự quan tâm. Sự thích thú cũng là một khía cạnh cảm xúc quan trọng trong Sự tham gia. Sự thích thú càng cao chứng tỏ mức độ tham gia cao của học sinh. Sự tham gia Hình 3. Sự tham gia và Dòng chảy 9 Sự tham gia của học sinh là một khái niệm cần được chỉ ra rõ ràng cùng với những thành tố của nó. Theo (Lam, 2014) , các nhà nghiên cứu đồng ý rằng, không thể gộp Sự tham gia vào các thành tố đóng vai trò ngữ cảnh trong quá trình dạy học (như thực hành giảng dạy của giáo viên, môi trường dạy học, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học,) điều này làm hạn chế hiểu biết về ảnh hưởng của những thành tố nói trên đến Sự tham gia như thế nào. Đồng thời, cũng không thể gộp STG với những thành tố đầu ra của quá trình dạy học (như: hạnh kiểm, thành tích học tập,), bởi lẽ, nếu làm như vậy sẽ ngăn cản việc đánh giá về những ảnh hưởng của STG lên các thành tố đầu ra của quá trình dạy học. Theo (Lam, 2014), STG của học sinh là một quá trình tâm lý-làm trung gian ảnh hưởng của các thành tố ngữ cảnh đối với kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học. Nó bao gồm sự nỗ lực, hứng thú, thích thú và tiếp thu của học sinh trong việc khởi xướng và duy trì các hoạt động học tập trong trường học. Như vậy có thể nói rằng, STG là thành tố trung gian, ở giữa các thành tố ngữ cảnh và các thành tố kết quả của quá trình dạy học. Ở đây cần làm rõ, các yếu tố ngữ cảnh trong quá trình dạy học bao gồm: môi trường lớp học, hoàn cảnh gia đình, điều kiện xã hội, và các yếu tố kết quả của quá trình giáo dục bao gồm: kết quả học tập ở trường (điểm số, hạnh kiểm, năng lực, phẩm chất, thành tích,), kết quả học tập không phải ở nhà trường (lòng tự trọng, sự hài lòng với cuộc sống, kĩ năng sống,). Sự tham gia của học sinh là một khái niệm mang tính đa chiều và đa tầng. Các nhà nghiên cứu về STG đã sớm định nghĩa khái niệm này ban đầu gồm hai chiều: hành vi và cảm xúc. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã bổ sung thêm một chiều thứ ba vào cấu trúc của STG đó là: nhận thức. Một định nghĩa được sử dụng rộng rãi do Fredricks, và cộng sự tổng hợp và đề xuất, đó là: STG của học sinh là một khái niệm đa chiều, trong đó có thể chỉ ra 3 chiều cơ bản đó là: hành vi, cảm xúc và sự nhận thức. Sự tham gia về mặt hành vi của học sinh được hiểu là các hành động tham gia vào các hoạt động dạy học, hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội của học sinh nhằm đảm bảo kết quả học tập và tránh sự bỏ học. Sự tham gia về mặt cảm xúc là những phản ứng tình cảm chủ quan của học sinh phát sinh khi nhận được tác động từ các thành tố của quá trình dạy học: giáo 11
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_xay_dung_va_kiem_dinh_thang_do_muc_do.doc