Sáng kiến kinh nghiệm Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk

doc 34 trang skquanly 02/01/2025 681
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk

Sáng kiến kinh nghiệm Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk
 Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
 PHÒNG GD & ĐT KRÔNG ANA
 TRƯỜNG THCS BĂNG ADRÊNH
 MỘT SỐ KINH NGHIỆM:
 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS BĂNG ADRÊNH, 
 HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐĂK LĂK
 Họ và tên : Nguyễn Anh Tuấn 
 Đơn vị công tác: Trường THCS Băng Adrênh
 Trình độ chuyên môn : Đại học sư phạm
 Môn đào tạo : Toán
 Krông Ana, tháng 03 năm 2018
 Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 1 Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
 5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
 Phân tích, tổng hợp tài liệu... nhằm xác lập cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt 
động dạy học trường trung học cơ sở.
 5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
 Điều tra, quan sát, tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia...nhằm khảo 
sát, đánh giá thực trạng vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở 
và thu thập thêm những thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
 5.3. Phương pháp thống kê toán học
 Sử dụng các công thức thống kê và các phần mềm để xử lý các kết quả nghiên 
cứu.
 II. PHẦN NỘI DUNG
 1. Cơ sở lý luận.
 Chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới thì giáo dục luôn là 
một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu. Trong Giáo dục và Đào tạo 
quản lý là nhân tố giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giáo 
dục. Để nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học cần có rất nhiều yếu tố, trong đó 
yếu tố quan trọng không thể thiếu được nó quyết định tới chất lượng giáo dục 
và sự phát triển giáo dục đó chính là các chế định giáo dục là những văn bản có 
tính pháp quy của Nhà nước như: Chỉ thị số 14/2001/CT- TTg ngày 11/6/2001 của 
Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Chỉ thị số 
33/2006CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực trong thi cử và khắc 
phục bệnh thành tích trong giáo dục; Điều lệ trường THCS và THPT ban hành kèm 
theo thông tư số 12/2011/TT-BGD&ĐT; phân phối chương trình, Thông tư số 
16/2017/TT-BGDĐT hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng 
người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Thông tư số 30/2009/TT-
BGD&ĐT ban hành Quy chế Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS; Nghị định số 
42/2013/NĐ-CP ngày 09/5/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo 
dục; Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 ban hành Quy chế đánh giá, 
xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT; Công văn số 1392/BGDĐT-GDTrH về 
việc đánh giá học sinh THCS mô hình trường học mới từ năm học 2016-2017; Công 
văn số 5333/ BGDĐT-GDTrH về việc triển khai đánh giá theo định hướng phát triển 
năng lực môn Tiếng Anh cấp trung học từ năm học 2014 – 2015.
 Trong công tác quản lý các hoạt động giáo dục ở nhà trường đòi hỏi sự chỉ đạo 
của CBQLphải mang tính toàn diện. Đặc biệt quản lý hoạt động dạy học phải được coi 
là khâu đột phát để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
 Như vậy, quản lý hoạt động dạy học (HĐDH) có hiệu quả được xem là khâu đột 
phá để nâng cao chất lượng học tập của người học, đây cũng chính là vấn đề cấp thiết 
được quan tâm nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường trong 
giai đoạn hiện nay.
 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu 
 + Trường THCS Băng Adrênh được thành lập năm 2006 và chính thức đi vào 
hoạt động từ năm 2010, trường có quy mô nhỏ, với 8 lớp và trên 180 học sinh. Đặc 
điểm của trường là hầu hết giáo viên là mới ra trường, không phải là người địa phương 
 Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 3 Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
hiện ở chỗ người lập kế hoạch chưa có hệ thống biện pháp thực hiện mục tiêu chất 
lượng giáo dục, đăng kí chỉ tiêu chất lượng còn thụ động, máy móc, tính khả thi thấp. 
 Bảng 2.1: Kết quả đánh giá thực trạng lập kế hoạch năm học
 Chất lượng xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ năm học
 Tốt (%) Khá (%) TB (%)
 52 36 12
 2.1.2. Quản lý việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp của giáo viên
 Qua điều tra phỏng vấn các đồng chí giáo viên, tìm hiểu tình hình thực tế ở 
trường cho thấy: Giáo viên rất chú trọng khâu bài soạn trước khi lên lớp, xuất phát từ 
quan niệm rằng một kế hoạch bài dạy tốt là cơ sở vững chắc cho một giờ dạy tốt. 
 Trên cơ sở quy định chung về mẫu bài soạn do Phòng GD&ĐT thống nhất, quản 
lý chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn cụ thể hoá quy định đối với những loại bài soạn 
có đặc trưng riêng như tiết thực hành, tiết ôn tập, tiết kiểm tra, tiết tự học có hướng 
dẫnĐồng thời cũng thống nhất quy định chất lượng đối với từng loại bài .
 Quản lý thông qua tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn yêu cầu giáo viên phải 
chuẩn bị bài soạn đầy đủ trước khi lên lớp, bài soạn phải theo hướng đổi mới phương 
pháp giảng dạy, phù hợp với yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa. Bài soạn 
phải có đủ các bước lên lớp thể hiện được các hoạt động của thầy và trò, phù hợp với 
nội dung bài học và khả năng tư duy của học sinh đồng thời có phương án hướng dẫn 
học sinh tự đọc, tự học, tự tìm hiểu để chủ động tiếp thu kiến thức. Bài dạy của giáo 
viên phải bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng qui định của chương trình, không tự ý cắt 
xén nội dung bài dạy, tăng cường sử dụng thiết bị thí nghiệm đồ dùng dạy học, phát 
huy trí thông minh sáng tạo của học sinh. 
 Kết quả kiểm tra giáo án được lưu trên sổ theo dõi riêng của ban giám hiệu và tổ 
trưởng chuyên môn. Mỗi lần kiểm tra đều kèm theo đánh giá xếp loại về chất lượng 
giáo án và lời nhận xét để giáo viên điều chỉnh.
 Thực trạng việc soạn bài lên lớp của giáo viên đã thực hiện nghiêm túc: Soạn bài 
đầy đủ trước ít nhất ba ngày khi lên lớp, các bài soạn đều theo hướng đổi mới phương 
pháp giảng dạy và phù hợp yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa. Các bài soạn có 
đủ các bước lên lớp, thể hiện được các hoạt của thầy và trò, phù hợp với nội dung bài 
học và khả năng tư duy của học sinh, có phương án hướng dẫn học sinh tự đọc, tự học, 
tự tìm hiểu chủ động tiếp thu kiến thức. Tuy nhiên việc soạn bài lên lớp của giáo viên 
còn một số hạn chế nhất định: Hệ thống câu hỏi chưa lôgíc, chưa thật sự sát đối tượng 
học sinh, chưa thể hiện đổi mới phương pháp giảng dạy; một số giáo án soạn quá dài, 
tham kiến thức chưa có nội dung củng cố từng phần, chốt vấn đề làm nổi bật trọng tâm 
của bài giảng
 2.1.3. Quản lý việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GV.
 Thông qua việc tìm hiểu thực hiện chương trình kế hoạch giảng dạy của giáo 
viên, cho thấy: 
 - GV bộ môn đã nghiêm túc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, không 
có hiện tượng cắt xén, dồn ép chương trình giảng dạy.
 - Qua theo dõi hệ thống hồ sơ quản lý việc thực hiện kế hoạch bài dạy của giáo 
viên gồm: thời khóa biểu, sổ báo giảng, sổ đầu bài, vở ghi học sinh với giáo án của GV 
 Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 5 Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
 - Công tác quản lý HĐDH chưa thật hiệu quả.
 + Về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: 
 Các biện pháp quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thông 
qua các phương thức chủ yếu:
 - Tiết kiệm chi phí để mua sắm thiết bị thông tin tối thiểu, khai thác và sử dụng 
Internet phục vụ cho công tác dạy học, khuyến khích giáo viên sử dụng các phần mềm 
dạy học ở các bộ môn đặc biệt là các bộ môn có thí nghiệm thực hành như: Hóa học, 
Sinh học, Vật lý. 
 - Tổ chức tập huấn cho toàn thể giáo viên về Tin học căn bản, cách sử dụng các 
phần mềm dạy học, cách thiết kế bài giảng tử, cách sử dụng các TBDH
 Về kết quả thực hiện của giáo viên trên thực tế, cho thấy: Đa số giáo viên nhận 
thức rõ tác dụng, sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT vào dạy học và có ý thức học 
hỏi nghiên cứu để nắm bắt sử dụng. Hầu hết, các giáo viên trẻ đã sử dụng thành thạo 
máy tính với các phần mềm thông dụng bằng trang thiết bị tự có của mình. Việc khai 
thác, sử dụng, tự tích lũy, giao lưu trao đổi tài liệu dạy học qua mạng thực sự tích cực, 
hiệu quả. Nhà trường đã đưa ra chỉ tiêu phấn đấu mỗi giáo viên có ít nhất 2 bài giảng 
điện tử trong năm học vào các đợt hội giảng cấp trường và đã thực hiện đảm bảo chỉ 
tiêu trên. Một số giáo viên có tuổi đã rất cố gắng để tiếp cận, sử dụng CNTT vào dạy 
học. Việc sử dụng CNTT vào dạy học đã thực sự làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn 
và hiệu quả hơn.
 Tuy nhiên kết quả thực hiện còn nhiều hạn chế: 
 - Trang thiết bị CNTT của trường còn quá ít so với nhu cầu sử dụng (trường chỉ 
có 1 máy chiếu projetor) nên mỗi khi hội giảng hoặc có đoàn thanh tra các đồng chí 
giáo viên phải đi mượn trường khác để sử dụng rất vất vả, do đó việc sử dụng thường 
xuyên bị hạn chế.
 - Do quan niệm và cách hiểu chưa đầy đủ ở một bộ phận giáo viên nên việc áp 
dụng CNTT chạy theo hình thức dẫn đến lạm dụng trình chiếu hạn chế việc rèn kỹ 
năng kỹ xảo hoặc còn sao chép bài giảng một cách vội vã dẫn đến sai sót về kiến thức, 
chưa phù hợp với đối tượng.
 + Về hội giảng, hội học: Giáo viên và học sinh đều coi hội học, hội giảng là động 
lực để động viên khích lệ phong trào dạy tốt học tốt là một nhiệm vụ quan trọng của 
mỗi giáo viên trong năm học. Ở trường THCS Băng Adrênh, các thầy cô giáo và học 
sinh tham gia hội giảng vào 2 đợt trong năm nhân dịp các ngày kỷ niệm: Đợt I từ 
15/10 -20/11; đợt II từ 3/2-26/3. Trong mỗi đợt hội giảng các thầy cô giáo đều chọn 
các bài khó để dạy, từ đó rút kinh nghiệm trong tổ nhóm chuyên môn, chọn ra các giờ 
dạy tốt tham gia hội thi GV dạy giỏi cấp huyện hàng năm do Phòng GD-ĐT tổ chức. 
 + Về sử dụng thiết bị thí nghiệm, tự làm đồ dùng dạy học của giáo viên: 
 - Hệ thống sổ sách đăng kí sử dụng thiết bị đồ dùng, thí nghiệm được ghi chép rõ 
ràng, phân kì việc sử dụng theo tuần, tháng và kì học.
 - Mỗi giáo viên đều phải lập kế hoạch sử dụng TBDH cho từng môn dạy theo 
từng tháng, tuần và cả năm học ngay từ đầu năm. Kế hoạch này được lưu ở ban giám 
hiệu (để kiểm tra) và nhân viên thiết bị (để hỗ trợ giáo viên chuẩn bị theo kế hoạch).
 Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 7 Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
 - Việc tổ chức coi chấm bài đã ngày càng đi vào nền nếp, đảm bảo công bằng, 
khách quan và kỷ cương trường học.
 Bên cạnh đó, việc kiểm tra đánh giá học sinh còn nhiều hạn chế, đó là:
 - Một số giáo viên có tuổi khó khăn trong việc nắm bắt, vận dụng quy trình và kỹ 
thuật biên soạn đề kiểm tra.
 - Chất lượng nhiều đề kiểm tra chưa cao: đề chưa bao quát kiến thức, chưa phân 
hóa được học sinh, chưa cân đối giữa các mức độ nhận thức thậm chí còn sai sót về 
kiến thức, ra đề vào phần đã được cắt bỏ 
 - Giáo viên các môn xã hội còn ngại ra đề với các câu hỏi mở đòi hỏi học sinh 
phải vận dụng tổng hợp kiến thức kỹ năng, phải biểu đạt chính kiến của bản thân mình 
vì sợ mất nhiều thời gian công sức.
 2.1.6. Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên.
 Ban giám hiệu nhà trường rât chú trọng đến công tác bồi dưỡng giáo viên, coi đó 
là động lực để nâng cao chất lượng dạy học. Vào trước mỗi năm học, nhà trường xây 
dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên gồm bồi dưỡng thường xuyên (theo chu kỳ, nâng 
chuẩn), bồi dưỡng tại chỗ (thông qua sinh hoạt chuyên môn, tổ chức các chuyên đề, 
hội thảo), hoạt động nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệmĐồng thời, 
khuyến khích giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về 
giảng dạy. Kết quả thực hiện có nhiều ưu điểm:
 + Nhà trường quan tâm tạo điều kiện việc bồi dưỡng nâng chuẩn cho giáo viên, 
tỷ lệ giáo viên trên chuẩn tăng dần qua các năm.
 + Việc triển khai các nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, tổ chức các chuyên đề 
bồi dưỡng giáo viên, tổ chức thảo luận khá thường xuyên tích cực đã giải quyết kịp 
thời các khó khăn trong giảng dạy ở mỗi đơn vị.
 + Đa số giáo viên nhất là GV trẻ có ý thức học hỏi đồng nghiệp qua dự giờ thăm 
lớp. Đồng thời cũng rất tích cực tự đọc, tự nghiên cứu, tự tìm kiếm thông tin qua mạng 
Internet để phục vụ cho chuyên môn của mình. Đây chính là hoạt động bồi dưỡng 
quan trọng nhất để nâng cao trình độ, năng lực GV.
 + Việc bồi dưỡng giáo viên đặc biệt là giáo viên trẻ trở thành giáo viên dạy giỏi 
cấp huyện và cấp tỉnh được các nhà trường rất quan tâm. Các giáo viên đăng ký dự thi 
giáo dạy giỏi cấp huyện được tổ chuyên môn, tổ tư vấn tập trung góp ý xây dựng bài, 
được tạo điều kiện tối đa về các TBDH
 Tuy vậy, công tác bồi dưỡng phát triển đội ngũ vẫn còn những hạn chế, đó là:
 + Số lượng giáo viên ít, đa phần là giáo viên trẻ và gia đình thì cách xa trường 
nên chưa tạo ra môi trường thuận lợi để giáo viên giao lưu trao đổi chuyên môn.
 + Một bộ phận giáo viên trong đó có cả giáo viên trẻ có tâm lý ỷ lại, không có ý 
thức phấn tự học tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề.
 + Các chuyên đề được tổ chức ở cấp trường chất lượng chưa cao, do khả năng 
của giáo viên có hạn, do các trường chưa động viên xứng đáng, chưa huy động sức 
mạnh tập thể cùng tham gia.
 + Lãnh đạo nhà trường chưa tạo được không khí thi đua, động lực phấn đấu nâng 
cao tay nghề trong đội ngũ.
 Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 9

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_quan_ly_hoat_dong_day_hoc_o_truong_thc.doc