Sáng kiến kinh nghiệm Một vài giải pháp quản lý chỉ đạo việc vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học đến trường tại trường tiểu học Võ Thị Sáu
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một vài giải pháp quản lý chỉ đạo việc vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học đến trường tại trường tiểu học Võ Thị Sáu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một vài giải pháp quản lý chỉ đạo việc vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học đến trường tại trường tiểu học Võ Thị Sáu

Một vài giải pháp quản lý chỉ đạo việc vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học đến trường tại trường TH Võ Thị Sáu Phần thứ nhất: PHẦN MỞ ĐẦU I.ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nền giáo dục hiện nay, phát triển toàn diện là mục tiêu mà Đảng, nhà nước, các ban ngành, các cấp đặt ra và mong đợi. Cùng với việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh thì việc duy trì sĩ số là vô cùng quan trọng. Đối với trường có nhiều học sinh đồng bào dân tộc thiểu số như tiểu học Võ Thị Sáu, việc vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học thường xuyên tới trường lại càng cần thiết hơn. Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục, một trong những nhiệm vụ quan trọng ngành đặt ra cho mỗi địa phương, mỗi đơn vị trường học chính là công tác đảm bảo duy trì sĩ số. Sự phối kết hợp tốt giữa nhà trường, gia đình và xã hội là tiền đề đảm bảo cho việc duy trì sĩ số học sinh nói chung và học sinh dân tộc nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường nhất là ở cấp tiểu học. Trong những năm qua, các cấp, các ban ngành đã tập trung chỉ đạo thực hiện công tác huy động học sinh trong độ tuổi đến trường, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và nâng cao chất lượng giáo dục và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên hiện nay tình trạng học sinh bỏ học hoặc nghỉ học theo mùa vụ, nghỉ học không lý do trên địa bàn huyện vẫn còn khá cao nhất là ở vùng sâu, vùng xa vùng có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống trong đó có trường tiểu học Võ Thị Sáu. Để giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học, học sinh đi học chưa chuyên cần, nhà trường đã có những chỉ đạo cụ thể và phối hợp với các tổ chức trong và ngoài liên quan đối với công tác giáo dục và đào tạo, đặc biệt là công tác vận động học sinh đến trường nhằm duy trì sĩ số và huy động học sinh trở lại lớp. Năm học 2016-2017, là người quản lý chỉ đạo, tôi đã vận dụng một số biện pháp nhằm duy trì sĩ số đối với học sinh dân tộc thiểu số nhưng chưa có tính khả thi, chưa thực sự mang lại hiệu quả cao, học sinh vẫn nghỉ học nhiều, tỷ lệ chuyên cần chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập. Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã không ít băn khoăn và muốn làm điều gì đó để góp phần nhỏ công sức của mình giúp các em có ý thức tới trường thường xuyên hơn, giảm thiểu một cách thấp nhất tình trạng học sinh bỏ học. Năm học 2017-2018, tôi quyết tâm thực hiện đề tài “Một vài giải pháp quản lý chỉ đạo việc vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học đến trường tại trường tiểu học Võ Thị Sáu” với đối tượng nghiên cứu là giáo viên, học sinh trường Tiểu học Võ Thị Sáu - huyện Krông Ana – Đăk Lăk. II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Bám sát với mục tiêu chung của Ngành giáo dục, trường tiểu học Võ Thị Sáu luôn nâng cao ý thức trong việc giảng dạy nhằm “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”. Việc duy trì sĩ số học sinh trong nhà trường, đặc biệt là vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học đi học trở lại đóng vai trò quan trọng được đặt ra không chỉ Thái Thị Hoài Thu Trường TH Võ Thị Sáu 1 Một vài giải pháp quản lý chỉ đạo việc vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học đến trường tại trường TH Võ Thị Sáu Việc vận động học sinh đến trường là một chủ trương lớn của Ngành giáo dục nhằm cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng các cấp, đây là giải pháp có tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và bồi dưỡng những tài năng của đất nước. II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 1.Thuận lợi Khi nghiên cứu đề tài này tôi nhận thấy, trường tiểu học Võ Thị Sáu có nhiều ưu thế để đẩy mạnh công tác duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đối với học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số như: Trong những năm qua, nhà trường nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành, của nhà nước như: Hỗ trợ chế độ chính sách cho học sinh vùng đồng bào dân tộc; hỗ trợ học sinh nghèo, học sinh con em đồng bào dân tộc thiểu số, chế độ học sinh khuyết tật có hoàn cảnh nghèo và cận nghèo. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viêncùng với đó là sự đổi mới mạnh mẽ trong công tác quản lí chỉ đạo: Tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh; điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học; tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh... Đa số giáo viên tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm; phù hợp với môn, lớp mình phụ trách tạo ra giờ học sôi nổi, thu hút các em đến trường. Sự chỉ đạo sát sao của Phòng giáo dục và Đào tạo, sự quan tâm của chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp ủy, ban tự quản thôn buôn và sự vào cuộc mạnh mẽ của Ban đại diện cha mẹ học sinh nhà trường. Lãnh đạo và các tổ chức trong trường năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, nhân viên tham gia các lớp bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên đoàn kết, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống hàng ngày. Luôn phát huy tốt vai trò trách nhiệm của người thầy trên bục giảng, thường xuyên phối kết hợp với cha mẹ học sinh để theo dõi, vận động học sinh đến trường. Một số cha mẹ học sinh quan tâm đến việc học tập của con em, đưa đón con em đi học. Phòng học, trang thiết bị, đồ dùng dạy học cơ bản đảm bảo phục vụ cho công tác dạy và học. 2. Khó khăn Trường tiểu học Võ Thị Sáu gồm 3 điểm trường, điểm lẻ Buôn Sha cách điểm chính khá xa, địa bàn dân cư rộng, đường đất trơn trợt về mùa mưa, bụi bẩn về mùa khô. Một số cha mẹ học sinh ít quan tâm do đó ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động của trường trong đó có công tác tuyển sinh. Thời gian tuyển sinh phải kéo dài hơn các trường thuận lợi, một số cha mẹ học sinh không tới trường buộc tổ tuyển sinh phải vào tận nhà. Học sinh đồng bào dân tộc tại chỗ chiếm 97%, các em còn nhút nhát, rụt rè, ngại giao tiếp; việc tiếp thu bài còn nhiều hạn chế. Một số gia đình làm thuê cho các cơ sở sản Thái Thị Hoài Thu Trường TH Võ Thị Sáu 3 Một vài giải pháp quản lý chỉ đạo việc vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học đến trường tại trường TH Võ Thị Sáu Khối TSHS HS nghỉ học HS nghỉ học HS có nguy HS bỏ học Học sinh không có lý theo mùa vụ cơ bỏ học hoàn thành do chương trình SL TL SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ Khối 1 138 26 18,8 21 15,2 3 2,2 125 90,6 Khối 2 104 21 20,2 23 22,1 2 1,9 1 0,9 100 96,1 Khối 3 99 19 19,2 15 15,2 1 1.0 96 96,9 Khối 4 104 17 16,3 22 21,1 2 1,9 1 0,9 102 98,0 Khối 5 97 12 12,4 19 19,6 2 2,1 1 1,0 97 100 Tổng 542 95 17,5 100 18,5 10 1,8 3 0,6 520 95,9 III. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ TIẾN HÀNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Thứ nhất: Chỉ đạo làm tốt công tác tuyển sinh, vận động 100% học sinh trong độ tuổi ra lớp 1. Từ thực tế của công tác tuyển sinh còn gặp nhiều khó khăn trong năm học 2016- 2017, trường đã lên kế hoạch để chủ động cho công tác tuyển sinh. Để chuẩn bị cho năm học 2017-2018, vào tháng 5/2017, Hiệu trưởng chỉ đạo tổ phổ cập liên hệ với trường mẫu giáo trong địa bàn để nắm danh sách trẻ 6 tuổi sẽ vào lớp 1để kịp thời huy động tất cả đến trường. Tổ chức điều tra, thống kê số liệu học sinh 6 tuổi trong địa bàn 7 buôn trường mình phụ trách, nắm danh sách học sinh học tại địa bàn và học sinh có hộ khẩu trong xã đến học tại các trường bạn. Chỉ đạo tổ tuyển sinh và tổ phổ cập lập danh sách vào sổ lưu để theo dõi. Phối hợp với 3 trường mầm non trên địa bàn trường quản lý, có 3 trường mẫu giáo thuộc địa bàn tuyển sinh. Vào cuối tháng 5/2017, nhà trường đã kết nối với trường mẫu giáo CưPang, Micky và trường mẫu giáo Hoa Sen về công tác tuyển sinh. Trường tiểu học Võ Thị Sáu làm giấy mời phụ huynh học sinh lớp Lá, nhờ giáo viên ba trường mẫu giáo gửi giấy mời tuyển sinh vào lớp 1 trong buổi họp Cha mẹ học sinh cuối tháng 5 năm 2016-2017. Vào đầu tháng 6/2017, giáo viên cộng đồng cùng với ban tuyển sinh phải liên hệ với trường mẫu giáo trong địa bàn để nắm danh sách trẻ 6 tuổi sẽ vào lớp 1 trong năm học 2017-2018 để kịp thời huy động tất cả các em đến trường. Thực hiện nghiêm túc kế hoạch tuyển sinh, tổ chức điều tra, thống kê số liệu học sinh đầu năm, nắm danh sách học sinh học tại địa bàn và học sinh có hộ khẩu trong xã đến học tại các trường khác. Thực hiện tuyển sinh theo tuyến mà Phòng giáo dục quy định. Thái Thị Hoài Thu Trường TH Võ Thị Sáu 5 Một vài giải pháp quản lý chỉ đạo việc vận động học sinh bỏ học, hay nghỉ học đến trường tại trường TH Võ Thị Sáu nặng lời để phê phán, xúc phạm học sinh khi các em mắc lỗi, dễ dẫn đến tác động tiêu cực, học sinh tự ái bỏ học. Giáo viên chủ nhiệm lớp liên hệ với gia đình học sinh kiểm tra việc đi học, tỉ lệ chuyên cần của các em, sử dụng các biện pháp giáo dục tích cực, biện pháp vận động phù hợp đưa các em tiếp tục đến trường, giúp các em tự tin và có tư tưởng, thái độ tốt hơn trong học tập. Ngoài ra giáo viên cần tích cực học tập tiếng Ê Đê để thuận lợi cho việc giao tiếp, trao đổi với cha mẹ học sinh nhằm phục vụ giảng dạy một cách tốt nhất. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phối hợp với giáo viên bộ môn và các bộ phận trong nhà trường từng bước khắc phục khó khăn để vận động học sinh đi học chuyên cần, giảm thiểu một cách thấp nhất tình trạng học sinh bỏ học, học sinh nghỉ học tùy tiện. Cùng với giáo viên bộ môn theo dõi chất lượng học tập hàng ngày và các bài kiểm tra định kì nhằm phân loại học sinh theo năng lực. Đặc biệt chú ý đến các học sinh đọc, viết yếu, tiếp thu chậm, nhà xa, hoàn cảnh khó khăn. Đây là các học sinh có nguy cơ bỏ học cao nhất cần phải có sự quan tâm định hướng. Năm học 2017-2018, nhiều lớp đã làm tốt công tác vận động học sinh đến trường như lớp 2B, cô Hoàng Thị Hồng vận động được 2 em có nguy cơ bỏ học trở lại lớp. Cô HNôch Byã (lớp 1E) vận động 1 em đã nghỉ học 2 tháng đến trường. Thầy Doãn Tiến Tám (lớp 5D) vận động được 2 em theo chị đi làm gạch trở lại lớp học. Thầy Y Huỳnh (4C), cô Nguyễn Thị Bích Thủy (5A) đã cảm hóa được phụ huynh 2 em vì hoàn cảnh khó khăn để con đi Sài Gòn làm thuê về lại trường học Hiệu trưởng phải là người theo dõi thường xuyên, có đánh giá cụ thể trong các cuộc họp hàng tháng, kịp thời nêu gương những giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác vận động học sinh đến trường, đảm bảo duy trì sĩ số, cuối năm có khen thưởng rõ ràng. Thứ ba: Chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho học sinh Đối với học sinh tiểu học đặc biệt là những trường có đông học sinh dân tộc thiểu số, việc tổ chức dạy tập nói tiếng Việt cho học sinh trước khi vào lớp 1 là cần thiết. Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị vào lớp 1, nhà trường chỉ đạo việc chuẩn bị tăng cường tiếng Việt cho trẻ; bố trí giáo viên dạy trước chương trình chính khóa ít nhất 2 tuần. Tăng thời lượng môn Tiếng Việt lớp 1 từ 350 tiết lên 500 tiết theo cách tổ chức dạy học 2 buổi/ngày; điều chỉnh thời lượng dạy học các môn học khác để tập trung ưu tiên dạy hai môn Tiếng Việt,Toán nhằm nâng cao chất lượng học tập cũng như góp phần tạo niềm tin cho các em mỗi khi đến trường. Tại trường Võ Thị Sáu, có một số giáo viên là người dân tộc bản địạ. Nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ để hướng dẫn các em thực hiện một số hoạt động học tập, vui chơi, sau đó dần dần chuyển sang sử dụng tiếng phổ thông. Tăng cường tổ chức các trò chơi, tạo môi trường giáo dục thân thiện, gần gũi giữa thầy và trò. Rèn cho học sinh ý thức phấn đấu vươn lên, kiên trì vượt khó để đi học đều và chăm học, mạnh dạn và tự tin tham gia các hoạt động học tập. Tăng cường công tác Đoàn Đội, Thái Thị Hoài Thu Trường TH Võ Thị Sáu 7
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_vai_giai_phap_quan_ly_chi_dao_viec.doc