Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học Lê Hồng Phong
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học Lê Hồng Phong", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học Lê Hồng Phong

MỤC LỤC TT Nội dung đề mục Trang 1 Phần mở đầu 2 2 I. Đặt vấn đề 2 3 II. Mục đích nghiên cứu 3 4 Phần thứ 2: Giải quyết vấn đề 3 5 I.Cơ sở lý luận của vấn đề 3 6 II.Thực trạng vấn đề 5 7 III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 6 Giải pháp 1: Tổ chức, phối hợp với các lực lượng giáo dục 6 8 trong và ngoài nhà trường; quản lý các điều kiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh DTTS Giải pháp 2: Chỉ đạo sử dụng hiệu quả các phương pháp 11 9 tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số (thông qua các hình thức vui chơi, tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt,) Giải pháp 3: Tăng cường tiếng Việt qua việc biết khai thác 15 10 triệt để vốn sống, các mối quan hệ cộng đồng, phong tục tập quán của địa phương 11 IV. Tính mới của giải pháp 20 12 V. Hiệu quả SKKN 21 13 Phần thứ ba: Kết luận, kiến nghị 23 14 I. Kết luận 23 15 II. Kiến nghị 24 16 Nhận xét của hội đồng sáng kiến cấp trường 25 17 Nhận xét của hội đồng sáng kiến cấp huyện 26 18 Tài liệu tham khảo 27 1 đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), việc bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trò, làm ảnh hưởng đến giao tiếp giữa cô và trò. Học sinh dân tộc thiểu số có nhiều đặc thù riêng về hoàn cảnh sống và tư duy suy nghĩ. Làm thế nào để chất lượng dạy và học được nâng cao? Làm thế nào để đào tạo ra những con người có tri thức, có nhân cách, những người có đủ “đức, trí, thể, mĩ”? Đó vẫn còn là một câu hỏi, khó có lời giải trọn vẹn. Là một cán bộ quản lý giáo dục của nhà trường, trong quá trình giảng dạy và công tác, bản thân tôi thường xuyên trăn trở, suy nghĩ tìm giải pháp để cùng tập thể sư phạm nhà trường và lãnh đạo địa phương từng bước tháo gỡ khó khăn, khai thác các điều kiện thuận lợi và các nguồn lực để áp dụng vào thực tế nhà trường, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học, những năm vừa qua chất lượng của học sinh dân tộc thiểu số còn thấp kéo theo chất lượng giáo dục của nhà trường. Vì vậy kết thúc mỗi năm học, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành chương trình lớp học vẫn còn, ảnh hưởng đến công tác phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi. Với tầm quan trọng và cần thiết của việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số nói chung và học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học Lê Hồng Phong nói riêng nên tôi đã mạnh dạn chọn và nghiên cứu đề tài "Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học Lê Hồng Phong". Với mong muốn được góp phần nhỏ cùng tập thể giáo dục nhà trường và nhân dân địa phương tìm ra hệ thống các giải pháp phù hợp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh trường tiểu học. II. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu các biện pháp chỉ đạo việc dạy và học, công tác phối hợp cùng với cộng đồng cùng tham gia tăng cường và học tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số. Nghiên cứu thực trạng khả năng sử dụng tiếng Việt, những hạn chế, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó. Nghiên cứu, đưa ra một số phương pháp, hình thức tổ chức tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy - học. Hỗ trợ cho giáo viên trong công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lí luận của vấn đề Theo Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025” phấn đấu đến năm 2020, hằng năm, 100% học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số được tập trung tăng cường tiếng Việt. 3 - Tập trung vào sự phát triển của học sinh và vào việc học sinh biểu hiện kết quả học tập như là một phần của quá trình học tập; coi đánh giá kết quả học tập là nguồn thông tin hữu ích để phản hồi lại cho việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh; ghi nhận sự thành công hơn là băn khoăn về sự thất bại. Tăng cường tiếng Việt là một trong những giải pháp nhằm giúp học sinh dân tộc thiểu số có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học; tạo tiền đề để học tập, lĩnh hội tri thức của các cấp học tiếp theo; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số trong nhà trường. II. Thực trạng vấn đề: Trường Tiểu học Lê Hồng Phong được thành lập năm 1982 với ba điểm trường đóng trên địa bàn 3 thôn, buôn với 2 điểm lẻ đóng trên 2 buôn đặc biệt khó khăn của xã Eana. Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số hàng năm chiếm trên 32% tổng số học sinh toàn trường. Trong những năm học vừa qua, luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Phòng Giáo dục và Đào tạo, chính quyền địa phương, lãnh đạo nhà trường luôn xác định đúng tầm quan trọng của việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số vì vậy đã xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ, đưa ra một số biện pháp phù hợp để tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Hàng năm, 100% số học sinh dân tộc thiểu số trong toàn trường được tăng cường tiếng Việt. Chất lượng giáo dục và đào tạo có chuyển biến tích cực. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng. Công tác quản lý dạy và học từng bước chuyển biến rõ rệt về chất lượng, đặc biệt là môn tiếng Việt. Hầu hết các em sống trong buôn Eana và buôn Drai thuộc diện gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức về giáo dục và chăm lo việc học hành của cha mẹ học sinh đối với con em còn nhiều hạn chế. Có một số cha mẹ học sinh vốn tiếng Việt rất ít, ngại giao tiếp với thầy cô. Vì vậy việc hướng dẫn, hỗ trợ học tập cho con em ở nhà gặp không ít khó khăn. Đội ngũ giáo viên chủ yếu là người dân tộc Kinh (chỉ có 01 giáo viên là người dân tộc tại chỗ) hầu hết giáo viên không biết nói tiếng dân tộc thiểu số cũng như không hiểu biết nhiều về phong tục, tập quán của đồng bào nên công tác vận động học sinh ra lớp, phối hợp với cha mẹ học sinh để tăng cường tiếng Việt, nâng cao chất lượng dạy học còn nhiều hạn chế. Tiếng Việt vừa là môn học cơ bản, vừa là môn học công cụ để học sinh tiếp thu tri thức và kỹ năng của các bộ môn khác trong chương trình giáo dục. Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học, chất lượng học tiếng Việt của học sinh dân tộc chưa cao, kéo theo sự hạn chế về phát triển năng lực tư duy, ít nhiều tạo ra bất lợi cho việc đạt đến những chuẩn mực trong mục tiêu giáo dục của bậc học. Việc giảng dạy mang tính áp đặt, khô khan do giáo viên “tham” và sợ nên cố truyền đạt những kiến thức có trong sách giáo khoa mà không giành thời gian để tạo ra sự hứng thú, sân chơi cho học sinh được nói, viết tiếng Việt là một hạn chế rất lớn trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh đặc biệt là đối với học sinh là người dân tộc thiểu số. 5 - Làm tốt công tác phối kết hợp để tuyển sinh vào lớp 1 và “ Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường ” + Từ đầu tháng 6, lãnh đạo nhà trường cùng các đoàn thể của nhà trường tích cực tham mưu với cấp ủy, chính quyền phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể địa phương tập trung tuyên truyền lồng ghép trong các buổi họp thôn buôn, thông qua đài truyền thanh của xã về “ Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường ”. Làm tốt công tác tuyển sinh trẻ trong độ tuổi vào lớp 1(hình 1). Đối với những gia đình ông, bà già nuôi cháu trong buôn, chúng tôi phân công giáo viên đến tận nhà học sinh để vận động ông, bà của học sinh đưa các em đến trường nhập học. Hình 1. Nhà trường tham gia tuyên truyền “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường), tăng cường sử dụng tiếng Việt tại Đại hội chi bộ buôn Eana và họp dân ở buôn Drai. + Sau buổi tựu trường, chỉ đạo giáo viên nắm tình hình sĩ số học sinh đến lớp, tìm hiểu nguyên nhân những học sinh chưa ra lớp, phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền thôn buôn tìm biện pháp vận động phù hợp với từng đối tượng học sinh để huy động tối đa số học sinh trong độ tuổi đến trường. Thường xuyên kiểm tra việc đi học chuyên cần của học sinh nhằm phát hiện kịp thời những đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ học để có giải pháp khắc phục, không để học sinh bỏ học lâu ngày rồi mới tìm hiểu nguyên nhân và vận động. + Huy động các nguồn lực xã hội hóa và các lực lượng tích cực vận động học sinh đi học, học sinh bỏ học trở lại trường, hỗ trợ kịp thời những gia đình khó khăn để con em họ được đến trường như: hỗ trợ quần áo, sách vở, đồ dùng học tập, bàn ghế, 7 1.2. Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, triển khai, tổ chức thực hiện việc dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Chất lượng học tập của học sinh DTTS phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phương pháp học, thái độ học và kỹ năng học. Các em hầu hết rất yếu về phương pháp học tập, thái độ học tập và chưa có thói quen tự học. - Chỉ đạo giáo viên phải bám sát vào đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch giảng dạy đạt chất lượng tốt. + Tiếp thu bài chậm là một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh dễ chán học và bỏ học. Để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh ở vùng đặc biệt khó khăn, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số, người giáo viên không chỉ cần có chuyên môn tốt mà còn phải có sự kiên trì, tận tụy, hiểu tâm lý học sinh. + Nếu người giáo viên sử dụng phương pháp dạy học không phù hợp có thể khiến các em nẩy sinh tâm lý "sợ học". Vì vậy, dạy kiến thức vừa sức với học sinh nhưng đảm bảo chuẩn kiến thức và thu hút được các em trong học tập. - Để thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh, ngay từ đầu năm học, chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên tổ chức khảo sát chất lượng học sinh. Thông qua khảo sát, giáo viên nắm bắt trình độ nhận thức của từng em, phân loại các đối tượng học sinh trong lớp từ đó xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp. - Khuyến khích giáo viên tăng cường sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Tổ chức các tiết học vui tươi, nhẹ nhàng, hiệu quả, kích thích được sự khám phá, tìm tòi, tạo hứng thú cho các em trong học tập. Tạo nhiều cơ hội để học sinh được giao tiếp bằng tiếng Việt trong các hoạt động học, cần tránh sự căng thẳng, khô cứng trong các tiết học Hình 3. Các tiết học tăng cường tiếng Việt thú vị 9 Ví dụ: Dạy tăng cường Tiếng Việt trong môn Đạo đức. Rèn luyện kỹ năng nói Tiếng Việt thông qua các nội dung dạy học như: Tự giới thiệu về bản thân và gia đình, trường, lớp; nói lời chào hỏi, tạm biệt; nói lời cảm ơn xin lỗi, nói lời yêu cầu, đề nghị, bày tỏ ý kiến của bản thân; đóng vai, kể chuyện tấm gương đạo đức. Rèn kỹ năng đọc tiếng Việt thông qua việc đọc các ngữ liệu trong sách: Truyện đọc, các bài tập về chuẩn mực hành vi đạo đức, các tài liệu liên quan đến bài học. Rèn kỹ năng nghe tiếng Việt thông qua các hoạt động trao đổi, giao tiếp trong môi trường học tập và sinh hoạt hàng ngày có các chuẩn mực và hành vi đạo đức. Rèn kỹ năng viết Tiếng Việt: Thông qua các hoạt động ghi chép nội dung học tập, ý kiến cá nhân hoặc ý kiến thảo luận trong nhóm. Lưu ý với giáo viên khi dạy: lời giới thiệu hay mô tả, hướng dẫn cần diễn giải chậm rãi, nhấn giọng vào các từ ngữ khó, từ ngữ chính, vừa diễn giải vừa sử dụng các động tác, tranh minh họa, vật thật để học sinh có thể hiểu được lới nói của cô. Gặp các từ cần giải nghĩa thì phải vận dụng như phương pháp giải nghĩa từ trong Tiếng Việt. Để giúp giáo viên tích hợp dạy kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong học tập môn học khác giúp học sinh tăng cường tiếng Việt với nhiều hình thức và phương pháp khác nhau đạt hiệu quả thì lãnh đạo nhà trường phải thực sự đồng hành cùng giáo viên để tư vấn, góp ý và cùng tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện. Giải pháp 2: Chỉ đạo sử dụng hiệu quả các phương pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số (thông qua các hình thức vui chơi, tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt,). Phần lớn học sinh DTTS còn nhút nhát, rụt rè, ngại giao tiếp. Bên cạnh đó vốn tiếng Việt của các em rất ít, hàng ngày các em giao tiếp với bố mẹ, cộng đồng bằng tiếng mẹ đẻ, môi trường giao tiếp hạn hẹp. Các em chỉ nói tiếng Việt khi ở trường còn khi về với gia đình các em lại sống trong gia đình thuần tiếng dân tộc. Môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt hạn chế và không thuần nhất, đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành và phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việt của các em gặp nhiều khó khăn. Muốn khắc phục điều này, trẻ em người DTTS trước khi đến trường ít nhất phải có những hiểu biết ban đầu về tiếng Việt. Vậy ai sẽ giúp các em có những hiểu biết này? Hầu hết các chuyên gia giáo dục đều cho rằng chính là các bậc cha mẹ, anh chị em trong gia đình sẽ là những chiếc cầu nối giúp các em học sinh có hiểu biết bước đầu về ngôn ngữ. 2.1. Xây dựng môi trường tiếng Việt ở nhà trường Học sinh dân tộc thiểu số học bằng NN2 thường không biết hoặc biết ít tiếng Việt, tư duy gián tiếp (tiếp cận tiếng Việt áp đặt), tiếp thu tiếng Việt hạn 11
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_tang_cuong_tieng_viet.doc